Pháp Cú Kinh

Phat hoc

Thiện Tri Thức

68 – MẠT PHÁP

Ngài Anh Thiệu Vũ nói với ngài Hối Đường :

Phàm xưng là Thiện Tri Thức (Thiện Tri Thức là người có trí tuệ, có đạo đức, khéo dẫn dắt người khác làm các việc thiện, lợi ích) phải giúp thêm vào việc giáo hóa của Phật tổ, làm cho các hàng tăng sĩ hồi chuyển tâm tính, hướng tâm về đạo, thay đổi ác nghịch, để thành người hữu thiện.

Tỳ khưu thời mạt pháp không tu đạo đức, ít có tiết nghĩa, thường thường hớn hở làm những việc luồn cúi, đút lót như chó vẫy đuôi xin thương, tìm cầu danh lợi ở cửa nhà quyền quí. Một mai nghiệp đầy, phúc hết, trời người chán ghét, làm nhơ nhớp chánh tông, làm liên lụy đến thầy bạn, há không thở dài được ư ?

Ngài Hối Đường im lặng gật đầu.

Kinh Bảy Pháp Thiện Tri Thức

Pháp thứ nhất: Tư cách của người biết rõ nhân.

– Gặp những gì trong hiện tại không phải ngẫu nhiên, mà có nguyên nhân của nó.

– Hiểu rõ sự vật nào mang đến hạnh phúc hay khổ đau.

– Không dính mắc vào nhân dù là nhân hạnh phúc hay nhân khổ đau.

– Tìm hiểu nhân nơi đâu mà có?

– Biết rõ cái nhân và diệt ngay cái nhân vừa mới chớm nở.

– Nhận thức được nhân sanh khổ đau và diệt bằng trí tuệ.

– Nhận thức được nhân hạnh phúc và không bị dính mắc bằng trí tuệ.

– Hạnh phúc mãi mãi trong các hoàn cảnh.

– Không chỉ biết rõ bộ mặt của khổ đau mà còn phải biết rõ gương mặt của hạnh phúc.

– Khi tâm khổ đau sanh lên, tâm này kéo theo tất cả các tâm khổ đau khác, khi tâm hạnh phúc sanh lên, tâm này kéo theo tất cả các tâm hạnh phúc khác.

– Các pháp sanh lên đều do nhân, khi nhân ấy bị diệt thì các pháp khác cũng diệt.

– Một đám rừng bị thiêu rụi không phải bởi một ngọn lửa khổng lồ mà do nơi một đốm lửa rất nhỏ.

– Thực tập chánh niệm để dập tắt đám lửa nhỏ, đề phòng đám lửa to.

Pháp thứ hai: Tư cách của người biết rõ quả.

– Việc làm của mình không bao giớ mất, quả sẽ trả lại cho mình tùy theo hành vi của mình.

– Tìm hiểu nhân của mình đã tạo để thấy rõ quả từ đâu đến.

– Kinh sợ quả hiện tại lấy đó làm gương mà tránh những nghiệp chẳng lành để khỏi quả vị lai.

– Dùng trí tuệ nhìn thấy nhân sanh oan trái và quả của sự gây oan trái, oán thù.

– Dùng nhẫn nại làm vũ khí để chuyển hoá oan trái oán thù, nhận chịu mọi hậu quả do người gây ra hay bản thân đã tạo.

– Sống vui trong đau khổ là giải thoát từng chi tiết đến giải thoát hoàn toàn.

– Biết nhân sanh và diệt ngay cái nhân ấy, đồng thời biết quả khổ của nhân nên kinh sợ quả ấy mà không dám tạo nghiệp gọi là biết quả.

Pháp thứ ba: Tư cách của người biết rõ mình.

– Biết mình là hạng người nào trong xã hội.

– Suy nghĩ thật chu đáo trước khi thực hành.

– Phải lượng sức và tài trí của mình, biết rõ luật lệ, trình độ tu học của mình, và phải nói năng có chánh niệm, như vậy mới an toàn được mọi nơi.

– Càng biết mình càng nhã nhặn lễ phép với người lớn, thương mến nể nang kẻ nhỏ, không vì sợ mà vì sự biết mình.

– Dẹp bớt và chuyển hoá lòng ngã mạn, chỉ một mực khiêm cung là người biết mình thực sự.

– Biết mình là một thành tựu, nên đời sống lúc nào cũng vui vẻ, vì không tạo oan trái, không tranh đua và biết thế nào là đủ sống, gọi là tri túc.

– Quan sát mình xem có đủ năm pháp căn bản không, đó là đức tin vững chắc, học nhiều hiểu rộng, thực tập giới, thực tập buông bỏ, và trau dồi trí tuệ.

– Luôn luôn hành động, nói năng, suy nghĩ theo những điều lành thiện, đem hạnh phúc cho bản thân và xã hội.

Pháp thứ tư: Tư cách của người biết điều độ.

– Biết điều độ trong việc sử dụng tiền bạc và thì giờ.

– Sử dụng tiền để làm các việc lành, phụng sự cha mẹ, giúp đỡ quyến thuộc và chia sẻ người thiếu thốn.

– Sử dụng thì giờ để học tu, học cách sống an vui, học cách làm thầy thuốc của chính mình.

Pháp thứ năm: Tư cách của người biết thì giờ.

– Sử dụng thì giờ của đời sống một cách hợp lý để mỗi giây phút đều tiếp xúc với sự sống.

– Nghe thuyết pháp, sửa chữa lỗi lầm và vun bồi hạnh phúc.

– Học chưa bao giờ là đủ nên cứ tiếp tục học, nhớ lại lời dạy của đức Phật và thực tập tâm yên lặng.

– Học mọi điều lành và vâng giữ hành theo, đồng thời khuyến khích người khác thực tập hạnh phúc như mình.

– Tham dự các buổi pháp đàm, thảo luận đạo, thân cận bậc thiện tri thức và mời người thực tập đánh giá phẩm chất tu học của bản thân.

– Dạy cho tâm mình an tịnh mọi lúc mọi nơi.

– Lấy trong sạch làm nền tảng; trì giới và tham thiền là hai phương pháp làm trong sạch tâm.

– Thực tập chánh niệm và thiền định, trau dồi trí nhớ và trí tuệ.

– Luôn luôn nhớ mọi việc đang xảy ra bên trong lẫn bên ngoài trong giây phút hiện tại, đồng thời sử dụng trí tuệ quán chiếu các sự việc đó.

Pháp thứ sáu: Tư cách của người biết hàng đại chúng.

– Biết công chúng có nhiều hạng người khác nhau, nên cách hành xử cũng tuỳ theo hạng người mà thay đổi.

– Làm vừa lòng người và đem hạnh phúc đến cho người, thiết tưởng đây là điều mà người tu thực hiện không ngừng nghĩ.

– Dù bị mắng nhiếc hay đánh đập, dù bị hàm oan hay tù đày, vẫn một mực từ bi thực tập nhẫn nhục, khiêm cung và hoá độ được người.

Pháp thứ bảy: Tư cách của người biết chọn người để thân cận.

– Chọn bạn là điều quan trọng, nên chọn người biết điều hay lẽ phải mà thân cận.

– Chọn bạn là những người lành, dù là hạng nào, giai cấp nào trong xã hội, không cần chứng cấp bằng, chỉ cần hành động chân chính, lời nói chánh niệm, suy nghĩ và tư tưởng lành.

– Quan sát kỹ người gần bên mình để giao phó trách nhiệm.

48. Kinh Bảy Pháp Thiện Tri Thức – Thiền Môn Nhật Tụng (không rõ nguồn gốc người dịch! Thành thật xin cáo lỗi.)

TN

Tháng Bảy 25, 2010 Posted by | Phật Giáo | Bạn nghĩ gì về bài viết này?